Sinh kế

    Mô hình trồng sả tại khóm 7 phường 8
    Sả thuộc loại cây dược liệu nhờ tinh dầu citral có nhiều công dụng chữa bệnh và là loại cây gia vị trong chế biến thức ăn, những năm gần đây cây sả được thị trường tiêu thụ khá mạnh. Hộ anh Nguyễn Văn Hiền, khóm 7, phường 8, thành phố Trà Vinh hiện đang thực hiện mô hình trồng sả. Mỗi năm, cây sả cho thu hoạch 2 vụ chính, 1 công cho năng suất bình quân hơn 1 tấn sả thương phẩm, giá bán cho thương lái dao động từ 10.000-15.000 đồng/kg. Sau khi trừ các chi phí, hộ anh thu được khoảng 10 triệu đồng lợi nhuận.Cây sả rất dễ trồng, dễ chăm sóc, thích nghi với điều kiện khô hạn, không bị dịch bệnh như các loại hoa màu, ít tốn công chăm sóc, chỉ cần làm cỏ, bón phân là thu hoạch, đặc biệt cây sả thích nghi trên mọi vùng đất, kể cả trên vùng đất bị nhiễm phèn mặn. Thêm vào đó, cây sả còn có ưu điểm nổi bật là có thể thu hoạch chậm hơn từ 3-4 tháng mà vẫn không ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm.
    Mô hình nuôi ốc bươu đen trên địa bàn phường 8
    Mô hình nuôi ốc bươu đen được hộ ông Nguyễn Hoàng Anh, ngụ khóm 1 phường 8, đầu tư nuôi với diện tích 100m2. Anh thả 15.000 con ốc bươu đen giống. Mỗi còn ốc giống giá 350₫/con. Tổng kinh phí đầu tư con giống là 5.250.000₫. kinh phí mua bạc khoản 5 triệu đồng, diện tích 100m2. Tổng vốn đầu tư khoản 11 triệu đồng. Chi phí điện, nước khoản 500.000₫ sau 4 tháng nuôi, thức ăn của ốc thì anh sử dụng bèo, trái mướp, trái cây như: trái mít, cáy dừa...để làm thức ăn cho ốc. Sau 4 tháng chăm sóc, sản lượng dự kiến đạt 500kg ốc thương phẩm. Với giá bán 50.000₫/kg tổng doanh thu ước đạt 25.000.000₫.sau khi trừ các khoản chi phí, khấu hao bể . Anh lợi nhuận khoản 14 triệu đồng.
    MÔ HÌNH NUÔI RẮN RI VOI TẠI NHÀ ĐƠN GIẢN CHO NĂNG SUẤT CAO TẠI KHÓM 10 PHƯỜNG 9, THÀNH PHỐ TRÀ VINH
    Rắn ri voi (rắn ri tượng) có tên khoa học là Enhydris Bocourti, thuộc loài rắn nước, nhưng chúng to hơn các loài rắn nước khác, có con nặng tới 7 – 8kg. Đặc biệt, thịt rắn thơm và tỷ lệ thịt trên một đơn vị trọng lượng cơ thể của rắn ri voi cao hơn nhiều so với các loài rắn nước khác. Vì vậy, chúng luôn là một đối tượng khoái khẩu đối với thực khách. Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long trước đây, rắn ri voi rất nhiều, do khí hậu ấm áp, thích hợp với điều kiện sinh sống và phát triển của các loài rắn nước, trong đó có loài rắn ri voi. Nhiệt độ thích hợp cho sự sống và phát triển của rắn từ 23 – 32 độ C, rắn sống ở vùng nước ngọt không thích vùng nước lợ. Phường 9 thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh cũng nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long rất thích hợp để nuôi loài rắn này, nhận thấy giá trị kinh tế, tận dụng diện tích bồn nuôi có sẵn và nguồn thức ăn sẵn có gia đình anh Tăng Hoàng Minh ( ngụ tại khóm 10 phường 9 thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh) đã tiên phong đem loài rắn ri voi về nuôi hứa hẹn tiềm năng phát triển. Nhờ mô hình nuôi rắn ri voi đã giúp kinh tế gia đình ổn định hơn. Vào năm 2018, anh Minh mua hơn 130 rắn con với giá 15 triệu đồng và thả vào bồn nuôi có sẵn. Nghề nuôi rắn ri voi được đánh giá là một nghề ít rủi ro, bởi rắn ri voi không chỉ có sức đề kháng, ít dịch bệnh mà còn dễ nuôi, chi phí đầu tư thấp trong khi đầu ra lại rất ổn định. Hàng năm, anh Minh chủ yếu cho rắn sinh sản để bán con giống. Chỉ tính trong năm 2021, đàn rắn ri voi của anh đã sinh sản hơn 2.000 rắn ri voi con và được bán hết cho người nuôi trong vùng, với giá bình quân từ 90.000-100.000 đồng/con. Sau khi trừ hết chi phí, anh Minh thu về lợi nhuận hơn 200 triệu đồng, chưa kể nguồn thu nhập từ bán rắn thương phẩm và rắn hậu bị sinh sản. Theo anh Tăng Hoàng Minh, rắn ri voi vốn là loài động vật từ tự nhiên, tuy nhiên dễ nuôi, nhẹ chăm sóc, thông thường từ 5-7 ngày mới cho ăn một lần. Thức ăn của rắn chủ yếu là các loại thủy sản da trơn như: cá trê, ếch, lươn… hoặc nguồn thức ăn ngay tại ao nhà, vừa tận dụng được thức ăn còn thừa, vừa giảm sự ô nhiễm nước, vừa tạo nguồn thức ăn tại chỗ cho rắn. Để rắn mau lớn, ít cắn nhau và có nơi trú ngụ, trong bồn nuôi anh Minh thả thêm các giá thể như dây ni lông, lá chuối khô, bắp, những ống nước nhỏ... Các bồn nuôi rắn được anh thay nước 1 lần/tuần, trước khi cho rắn ăn. Rắn ri voi sau 12 tháng nuôi có thể xuất bán rắn thịt, sau 18 tháng nuôi sẽ bắt đầu cho sinh sản. Rắn ri voi con sau 1 năm thả nuôi sẽ đạt trọng lượng từ 600gram đến 1kg. Về phối giống để rắn sinh sản, ông Khởi cho rắn giao phối từ đầu mùa mưa. Khoảng tháng 5-7 âm lịch, chọn con giống bố mẹ trước khi cho rắn phối giống, nhốt chung tỷ lệ 3 cái và 1 đực. Mỗi năm rắn cái đẻ 1 lần, mỗi lần từ 10-25 con. Ðối với rắn mẹ có trọng lượng trên 2 kg có thể đẻ 30-40 con/lứa. Chỉ với 2 bồn xi măng có sẵn ban đầu, nhưng bằng niềm đam mê và chịu khó nghiên cứu, học hỏi, hiện tại anh đã đầu tư thêm 2 bồn xi măng và tạo ra nguồn thu nhập mỗi năm hàng trăm triệu đồng từ mô hình nuôi rắn ri voi. Ðây là mô hình dễ thực hiện, chỉ cần diện tích nhỏ, chi phí thấp nhưng cho lợi nhuận khá cao, phù hợp với hộ ít đất sản xuất như ở Thành phố Trà Vinh và các huyện khác trên địa bàn Tỉnh./.
    Mô hình nuôi vịt xiêm lai pháp tại khóm 3 phường 9 thành phố Trà Vinh
    Giống vịt xiêm có lẻ không quá đổi xa lạ với bà con chăn nuôi vịt. Nhưng hiện nay hiệu quả mà giống vịt xiêm này tại địa phương mang lại hiệu quả không quá cao. Chính vì vậy, ông Khâu Hữu Triệu đã nuôi thí điểm mô hình vịt xiêm lai Pháp tại khóm 3, phường 9, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Mô hình được thực hiện với quy mô 2.500 con vịt xiêm lai Pháp. Giống vịt xiêm lai Pháp dễ nuôi, ít bệnh, tăng trưởng nhanh, ít hao hụt về số lượng giống, tỉ lệ thịt cao. Vịt trưởng thành con trống có trọng lượng 4-6 kg, con mái từ 3-4 kg. Nuôi 3-6 tháng sẽ có hiệu quả tốt nhất. Có thể ăn thức ăn công nghiệp với các loại phụ phẩm nông nghiệp để tiết kiệm chi phí. Chuồng nuôi: nuôi nhốt kết hợp thả vườn. Hiện giá vịt xiêm lai Pháp bán thịt khoảng 65.000đ/kg (vịt đực), 60.000đ/kg (vịt cái). Mỗi kí thịt vịt người nuôi thu lợi nhuận tầm 25.000 đồng. Cần lưu ý nuôi vịt xiêm pháp không khó tuy nhiên để nuôi thành công cần tiêm phòng vacxin đầy đủ. Thức ăn và nước uống phải sạch sẽ. Đặc biệt là giai đoạn úm cần chuẩn bị rơm rạ đủ ấm cho vịt tự làm tổ để tránh tỉ lệ hao hụt.Nuôi vịt xiêm Pháp tuy là mô hình mới nhưng bước đầu đã mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân và phù hợp với điều kiện khí hậu của phường 9; đây sẽ là hướng phát triển mới cho người chăn nuôi, giúp người dân nâng cao thu nhập, góp phần thực hiện tốt định hướng đa dạng hóa vật nuôi trên địa bàn phường 9 trong thời gian tới và phù hợp với tình hình dịch bệnh covid 19 trong thời gian này. Với mô hình nuôi vịt xiêm lai Pháp đã đạt hiệu quả cao trong thời gian từ 2016 đến nay. Ông Triệu mong muốn mô hình này sẽ được phổ biến rộng đến người dân trên địa bàn phường 9 cũng như người dân trên địa bàn tỉnh Trà Vinh.
    Trồng chọt
    Nhằm chuyển đổi cây trồng tạo thêm thu nhập phát triển kinh tế gia đình. Anh Trần Phương Thanh (ấp Kinh Giữa 2, xã Kế Thành) đã mạnh dạn chuyển đổi đất canh tác từ làm lúa lên liếp làm vườn, qua bao năm anh nhận thấy với diện tích đất chỉ có 6.000m², thì mỗi vụ thu nhập không được bao nhiêu, sinh hoạt gia đình hằng ngày không đủ vào đâu. Anh quyết định thay đổi mô hình từ trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây ăn trái. Đầu năm 2015, anh đã cải tạo chuyển diện tích 6.000m² đất trồng lúa sang trồng cây bưởi Năm roi. Với diện tích anh trồng khoản 500 cây, anh đặt mua cây giống khoản 18.000đ/cây, chi phí lên liếp khoản 20.000.000đ, tổng chi phí đầu tư lúc đầu khoản 20.000.000đ. Đến đầu năm 2019 nhờ chăm sóc kỹ, học hỏi từ những người xung quanh và anh tìm hiểu trên các trang Youtube, nên cây bưởi của anh cho ra trái to, màu sắc đẹp, vườn của anh được thương lái đến thu mua tại vườn, với giá bán trung bình khoản 15.000đ/kg, số lượng khoản 300kg, trừ chi phi anh bón phân và xịt thuốc dưỡng trái anh thu nhập về khoản 5.000.000đ/năm. Đầu năm 2020 anh chăm sóc cây và cho ra trái bán vào dịp Tết cho bà con ăn và trưng bưởi tết, đến cuối năm 2020 thì bưởi của anh cho ra trái rất nhiều, anh bán với giá là 18.000đ/kg, số lượng khoản 1,5 tấn, anh thu về khoản 30 triệu đồng, trừ chi phí anh còn khoản 20.000.000đ/năm. Đến năm 2021 anh tiếp tục thực hiện phương án cho ra trái vào dịp tết. Cây cho trái năm thứ 3 nên cây lớn và đủ sức cho ra bông kết trái nên số lượng anh bán khoản 2 tấn, với giá 20.000đ, anh thu về khoản 40.000.000đ, trừ chi phí anh còn khoản 25.000.000 đ/năm. Đến giữa tháng 4 năm 2022 hàng tháng anh bán khoản 700kg, giá 17.000.000 đ. Anh thu về hàng tháng 5.000.000 đ. Hiện nay anh đang cho ra bông kết trái để bán vào dịp Tết nguyên đán, theo tỉ lệ bông đang ra anh ước tính khoản 3 tấn, giá khoản 25.000.000 đ, thì anh thu về trừ lợi nhuận còn khoản 50.000.000 đ. Hiện tại anh đang đặt giống trồng thêm và nhân rộng mô hình để tăng thêm lợi nhuận, tăng thu nhập kinh tế gia đình.
    Mô hình nuôi gà tre thịt trên địa bàn xã Long Đức
    Hiện nay trên địa bàn xã Long Đức có nhiều mô hình chăn nuôi có hiệu quả. Trong đó, mô hình nuôi gà tre thịt của hộ anh Huỳnh Xây Dựng tại ấp Kinh Lớn, Xã Long Đức là một mô hình tiêu biểu, anh cho biết gà tre là giống gà có thịt săn chắc thơm ngon, thị trường tiêu thụ lớn vad chi phí đầu tư thấp hơn so với các giống gà khác nên anh đã xác định đây là giống vật nuôi sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình. Về kỹ thuật nuôi gà tre thịt, anh Dựng chia sẻ, khu vực chuồng trại, anh chọn khu đất cao ráo, thoáng mát, xây theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều, mật độ 10 con/m2 hoặc nhỏ hơn, làm thế nào đảm bảo rộng, thoáng để gà có "sân chơi" là tốt nhất, lưu ý phải làm ấm lồng úm trước khi bắt gà thả vào chuồng, nguồn gà giống anh đặt mua ở một trại gà tre giống uy tín trong tỉnh. Đặc biệt, người nuôi chú ý bổ sung thêm vitamin C cho gà nếu trời nóng; chủng vaccin Lasota lúc 01 ngày tuổi, lặp lại lúc 12 và 28 ngày tuổi. Gà tre thịt nuôi từ nhỏ đến khi xuất bán với thời gian khoảng hơn 3 tháng, lúc này trọng lượng bình quân mỗi con đạt chừng 1kg, đáp ứng nhu cầu của thị trường, chủ yếu phục vụ cho các quán ăn, nhà hàng ở các nơi. Anh Dựng cho biết, xe tải đến tận chuồng để bắt gà, mỗi chuyến từ 700 - 800 con, giá hiện nay trung bình khoảng 100.000 đồng/kg; chi phí đầu tư nuôi gà tre thịt từ lúc nhỏ cho đến khi xuất bán khoảng 55.000 đồng/con. Mỗi tháng, trại gà tre thịt của anh xuất chuồng từ 1.500 - 2.000 con gà, sau khi trừ đi chi phí mỗi tháng anh thu về từ 60 - 80 triệu đồng, chính nhờ vậy đã tạo nguồn thu nhập ổn định cho gia đình anh Huỳnh Xây Dựng ngày càng sung túc hơn. Đây là mô hình khá lý tưởng cần được nhân rộng đối với những hộ ít đất đai canh tác trên địa bàn xã Long Đức
    Mô hình nuôi ếch trong lồng lưới hiệu quả cao
    Hiện nay, mô hình nuôi ếch bằng lồng lưới, kết hợp nuôi cá dưới ao đang đem lại hiệu quả cho nhiều bà con nông dân. Trong đó, làm lồng bằng lưới nilon thuận tiện cho quá trình chăm sóc ếch, đặc biệt là giúp người nuôi giảm chi phí nhiều lần so với làm chuồng bằng bể xi măng. Không cần đất để xây dựng chuồng trại nuôi ếch, ông Võ Văn Khoa - Chi hội trưởng Cựu Chiến binh khóm 5, phương 9, TPTV đã tận dụng diện tích mặt nước ao trong vườn để vừa nuôi cá vừa nuôi ếch. Trên là ếch, dưới là cá, đây là cách thức nuôi kết hợp độc đáo của ông. Thức ăn rơi vãi của ếch sẽ là nguồn thức ăn cho cá. Điều này giảm được số lượng thức ăn cung cấp cho cá, đồng thời hạn chế khả năng ao nuôi bị ô nhiễm. Kết hợp với việc nuôi ếch ở vùng nước lưu thông, ánh nắng tốt đàn ếch của ông Khoa giảm 20% các loại bệnh. Một trong những kỹ thuật bảo đảm hiệu quả chăn nuôi của ông là thiết kế chuồng nuôi ếch bằng các tấm lưới nilon. “Việc sử dụng lưới nilon nuôi ếch giúp tiết kiệm khoảng 60% chi phí so với làm bể xi măng như trước kia”- Ông Khoa chia sẻ. Mật độ thả nuôi ếch từ 100 – 150 con/m2, kích cỡ 5 – 10 g/con. So với nuôi ếch trên cạn thì mật độ nuôi ếch trong lồng lưới nhiều hơn từ 10-20 con/m2. Khi ếch nuôi khoảng 15 ngày, ếch đạt kích cỡ 100g, bà con nên tiến hành san thưa ếch với mật độ 70 – 80 con/m2. Sau khi nuôi khoảng 3- 3 tháng rưỡi, ếch sẽ đạt trọng lượng trên dưới 200-300 gam/1 con. Lúc này, bà con có thể thu hoạch ếch thương phẩm.
    Mô hình sinh kế nuôi Dúi trên địa bàn XÃ LONG ĐỨC
    Dúi (chuột nứa) được xếp vào loại thức ăn đặc sản, thịt ngon, mát, giàu đạm,không những mang lại nguồn thực phẩm giàu chất dinh dưỡng,còn mang lại giá trị kinh tế cao cho nhiều hộ dân trên địa bàn Xã Long Đức.Diện tích chuồng nuôi chỉ tầm 80 m2, nền lát gạch, chia thành nhiều ô nhỏ, mỗi ô rộng 0,7 m2 để chia cặp nuôi sinh sản. Chuồng phải kín gió, bố trí nơi ít tiếng động; dúi ưa tối nên cần che chắn để ánh sáng mặt trời không chiếu trực tiếp vào.Dúi sinh sản mỗi năm khoảng 03 lứa, mỗi lứa 2-4 con. Dúi giống sau 3 tháng xuất chuồng có thể đạt 500-700g, Dúi thương phẩm nuôi 6-7 tháng có thể xuất chuồng, trọng lượng khoảng 1 - 1,5 kg. Dúi có đặc tính ăn đêm, ngủ ngày, thức ăn chủ yếu là thực vật tự nhiên, mỗi ngày chỉ cần cho ăn một lần vào chiều tối.Thức ăn chủ yếu của Dúi là tre, mía, tầm dong… rất dễ tìm, mía cũng rất dễ trồng, mình có thể tận dụng đất trống trồng thêm bắp, khoai mì, con Dúi ăn sẽ rất mau lớn, khỏe mạnh. Còn đặc điểm nữa là Dúi hầu như không cần uống nước, phân thì khô, ít mùi, thường 03 ngày mới phải dọn chuồng 1 lần, rất thuận tiện cho việc chăn nuôi. Với việc tìm hiểu và nhân giống, thuần chủng, đã thích nghi với điều kiện khí hậu của miền Tây với tỉnh Trà Vinh nói chung và Xã Long Đức nói riêng. Chỉ với 6.000.000 đồng đã có thể xây dựng chuồng trại,giống 2.500.000 đồng/cặp với số lượng 50 cặp tương đương với 125.000.000 đồng,Chi phí thức ăn và vệ sinh phòng bệnh 1.500.000 đồng/tháng Tổng chi phí ban đầu 135.000.000 đồng.Dúi 1 năm sinh sản 3 lần với tổng số 600 con,trong đó 400 đạt tiêu chuẩn mỗi cặp dúi giống giá 800.000 đến một triệu đồng,ta thu được 360.000.000 đồng Những con không đạt tiêu chuẩn xuất giống được chăm sóc để bán thương phẩm cho các nhà hàng trên địa bàn, giá 1 kg khoảng 500.000 đồng,tương đương 50.000.000 đồng/200 con.Trừ chi phí ban đầu ta thu được 275.000.000 đồng/năm. Chi phí ban đầu bỏ ra thấp,dễ dàng chăm sóc,thu lại lợi nhuân cao nên rất nhiều hộ dân trên địa bàn Xã Long Đức xây dựng mô hình nuôi Dúi để phát triển kinh tế,gia tăng thu nhập.Ngoài ra Chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ vay vốn khởi nghiệp cho bà con trên địa bàn Xã.Không những thế Thịt dúi là một trong những món đặc sản, thơm ngon và giàu chất dinh dưỡng nên được nhiều người ưa chuộng. Hiện nay, số lượng dúi thịt trong trang trại cung cấp ra thị trường không đủ. Để cùng phát triển kinh tế,Người dân trên địa bàn Xã Long Đức đã cùng nhau chia sẻ mô hình chăn nuôi phát triển kinh tế này
    Nuôi bò sinh sản mang lại hiệu quả cao
    Mô hình nuôi bò sinh sản trên địa bàn phường 8 đã và đang đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Mô hình này đã góp phần trong công tác giảm nghèo, giúp các hộ nghèo có sinh kế lâu dài, tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống, vươn lên thoát nghèo.Theo ông Thạch Văn Bền, khóm 8, phường 8 thì khi nuôi bò sinh sản thì thời gian mang thai trung bình của bò cái là 9 tháng, khoảng cách lứa đẻ tối đa kéo dài đến khoảng 3 năm. Một công việc cực kỳ quan trọng là bà con phải thường xuyên vệ sinh khu vực bên trong chuồng trại và khuôn viên bên ngoài chuồng trại, đảm bảo các dụng cụ ăn uống luôn sạch sẽ. Thực hiện đúng quy trình tiêm phòng các bệnh phổ biến cho bò như lở mồm long móng, tụ huyết trùng, các bệnh lây nhiễm. Thường xuyên tắm và chải lông để khí huyết của bò được lưu thông, hạn chế ký sinh ngoài da. Định kỳ tẩy giun, ve, ký sinh trùng cho bò. Đảm bảo chuồng trại luôn thoáng mát, sạch sẽ, không cho bò ăn những thức ăn ôi thiu, nấm mốc.Đến nay, qua nhiều năm thực hiện mô hình gia đình ông đã vươn lên thoát nghèo, kinh tế gia đình ngày càng khá giả.
    Mô hình nuôi lươn tại khóm 1 phường 8
    Lươn có giá trị dinh dưỡng cao, giàu protein, các loại vitamin và khoáng chất. Thịt lươn được sử dụng để chế biến nhiều món ăn hấp dẫn lại có tác dụng bồi bổ sức khỏe cho mọi lứa tuổi. Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, mô hình nuôi lươn không bùn kiểu mới được nuôi thử nghiệm tại nhiều địa phương và cho nhiều kết quả tích cực, mang đến nguồn lợi nhuận cao cho người chăn nuôi.Hộ anh Lê Quang Nhả, ngụ khóm 1 phường 8 đã thực hiện mô hình nuôi lươn từ năm 2021 đến nay thu được hiệu quả tốt. Trong nuôi lươn không bùn có 2 điều quan trọng nhất cần chú ý đó là nguồn nước và khâu chăm sóc, quản lý. Đảm bảo nguồn nước sạch, cần thay nước thường xuyên từ 2 - 3 lần/ngày. Ngoài việc cung cấp thức ăn đầy đủ, cần bổ sung men tiêu hóa và vitamin để lươn tăng sức đề kháng, chống bệnh tật và chịu được sự thay đổi thời tiết đột ngột.Qua quá trình thực hiện, mô hình nuôi lươn không bùn không những tạo nguồn thu nhập hiệu quả cho hộ gia đình mà còn mở ra một hướng đi mới trong phát triển kinh tế; góp phần vào việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Qua 1 năm thực hiện, hộ gia đình anh Nahr đang thu hoạch, bán lươn đợt 1 những con lươn lớn được 20 triệu đồng, số còn lại sẽ tiếp tục thu hoạch khi lươn đủ tiêu chuẩn.